Thứ Hai, 21 tháng 3, 2016

ĐIỀU KIỆN NÀO SẼ ĐƯỢC HƯỞNG TRỢ CẤP THÔI VIỆC?

khi người lao động thôi việc tại công ty, ko kể các khoản được hưởng như bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp... thì người lao động còn được hưởng thêm khoản trợ cấp thôi việc từ công ty. Câu hỏi thường gặp là điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp là gì? bí quyết tính trợ cấp thôi việc cho người lao động như thế nào? Phần mềm kế toán Effect xin chia sẻ tình huống cụ thể để góp phần trả lời cho những câu hỏi trên.

Ông A ký HĐLĐ không xác định thời hạn với 1 doanh nghiệp từ ngày 1.5.2008. Vì lý do sức khỏe, ông A dự định xin nghỉ việc vào tháng 9.2013. Mức lương trên HĐLĐ là 3.500.000 đồng/tháng, tuy nhiên, lương thực nhận hằng tháng của ông A là 8.000.000 đồng/tháng. Vậy lúc chấm dứt HĐLĐ, ông A mang được hưởng trợ cấp thôi việc không? phương pháp tính như thế nào?

Tại Điều 48 Bộ luật Lao động 2012 (BLLĐ) quy định:

"1. lúc HĐLĐ chấm dứt theo quy định tại các khoản một, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của bộ luật này thì người sử dụng lao động sở hữu trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã khiến việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương;

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người tiêu dùng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và thời gian làm cho việc đã được người tiêu dùng lao động chi trả trợ cấp thôi việc; 3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo HĐLĐ của 6 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc".

Dựa vào quy định trên, đối chiếu với ví như của ông A, đã làm việc thường xuyên theo HĐLĐ từ ngày một.5.2008 đến tháng 9.2013 (5 năm), do đó, ông A thuộc đối tượng người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc khi chấm dứt HĐLĐ.

Mặc dù lương thực nhận hằng tháng của ông là 8.000.000 đồng/tháng, nhưng lúc tính trợ cấp thôi việc, tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo HĐLĐ của 6 tháng ngay tắp lự kề trước lúc chấm dứt HĐLĐ. do đó, mức tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc của ông A là mức tiền lương theo HĐLĐ hai bên đã ký kết, với nghĩa là 3.500.000 đồng/tháng.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của ông A là tổng thời gian ông A đã làm việc thực tế trong doanh nghiệp trừ đi thời gian ông A tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, thời gian khiến việc để tính trợ cấp thôi việc của ông A được tính từ ngày 1.5.2008 tới ngày một.1.2009 (thời điểm người lao động thực hiện đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật BHXH), mà theo khoản 5 Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành 1 số điều của BLLĐ về HĐLĐ, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc mang tháng lẻ thì được làm tròn: Từ đủ 1 tháng tới dưới 6 tháng làm tròn thành 1/2 năm; từ đủ 6 tháng tới dưới 12 tháng khiến tròn thành 1 năm. do vậy, thời gian làm cho việc để tính trợ cấp thôi việc cho ông A sẽ được khiến tròn là 1 năm.

Dựa theo phương pháp tính trợ cấp thôi việc quy định tại Điều 48 BLLĐ: Tiền trợ cấp thôi việc = Tổng thời gian khiến cho việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc x tiền lương làm cho căn cứ tính trợ cấp thôi việc X 1/2. Như vậy, trợ cấp thôi việc của ông A được tính là: 1 x (3.500.000 x 1/2) = 1.750.000 đồng.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More