một. Điều kiện được hưởng chế độ thai sản
Theo quy định của Luật BHXH thì điều kiện được hưởng chế độ thai sản đối mang trường hợp lao động nữ sinh con (kể cả sau khi sinh con mà con bị chết) là nên đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
Về chuyên môn y học, theo nội dung trả lời của Bộ Y tế thì quy định những trường hợp đình chỉ thai nghén trước 22 tuần tuổi của thai kỳ được xác định là phá thai; từ đủ 22 tuần tuổi đến trước tuần thiết bị 37 của thai kỳ được xác định là đẻ non.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 28 Luật BHXH số 71/2006/QH11 và khoản 1, Điều 14 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP, được hướng dẫn tại điểm 1, Mục II Thông tư số 03/2007/TT-LĐTBXH, điều kiện hưởng chế độ thai sản của lao động nữ sinh con như sau:
- Lao động nữ sinh con cần đóng BHXH từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
- trường hợp sinh con trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con ngoại trừ vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
- trường hợp sinh con từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con được tính vào thời gian 12 tháng trước lúc sinh con.
2. phương pháp tính trợ cấp thai sản
Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: Người lao động được nghỉ việc hưởng chế độ trước và khi sinh con là 6 tháng, nếu đáp ứng đủ các điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
Theo quy định tại Điều 34 và Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội thì người lao động nữ được hưởng chế độ khi sinh con như sau: Người lao động được hưởng chế độ lúc sinh con sở hữu mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng ngay lập tức kề trước lúc nghỉ việc; Được trợ cấp một lần lúc sinh con bằng 2 tháng lương tối thiều chung cho mỗi con.
Theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội buộc phải thì mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội khiến cho cơ sở tính hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng kiền kề trước khi nghỉ việc.
3. Đóng BHXH ngắt quãng với được hưởng chế độ thai sản?
Theo khoản 2 Điều 28 Luật BHXH năm 2006 và khoản 1 Điều 14 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành 1 số điều của Luật BHXH thì điều kiện để hưởng chế độ thai sản của lao động nữ sinh con là bắt buộc đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
Điểm 1, Mục II, Phần B, Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện khoản 1 Điều 14 Nghị định 152/2006/NĐ-CP quy định:
- nếu sinh con trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con bên cạnh vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
- giả dụ sinh con từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con được tính vào thời gian 12 tháng trước lúc sinh con.
Tại điểm 4, Mục II, Phần B Thông tư này hướng dẫn thực hiện Điều 16 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP như sau: Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH khiến cho cơ sở tính hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương, tiền công của 6 tháng ngay tắp lự kề gần nhất trước khi nghỉ việc. trường hợp thời gian đóng BHXH không liên tục thì được cộng dồn.
4. Giải quyết chế độ thai sản khi công ty nợ tiền BHXH
Theo quy định tại khoản một, Điều 18 Luật BHXH năm 2006, thì hàng tháng người tiêu dùng lao động sở hữu trách nhiệm đóng BHXH phần trách nhiệm đóng của mình và trích từ tiền lương, tiền công của người lao động để đóng cùng 1 khi vào quỹ BHXH.
ví như công ty vẫn trích đóng tiền BHXH từ tiền lương của người lao động nhưng ko đóng cho cơ quan BHXH là vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 14, Điều 134 Luật BHXH, gây cạnh tranh trong việc thực hiện chi trả những chế độ BHXH, ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động tham gia BHXH.
Giải quyết vướng mắc trong thực hiện chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động do người sử dụng lao động nợ BHXH, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với Công văn số 1741/LĐTBXH-BHXH ngày 27/5/2014 gửi BHXH Việt Nam trao đổi ý kiến tháo gỡ như sau: Theo quy định của Luật BHXH thì người sử dụng lao động mang trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động, sau đấy người tiêu dùng lao động thực hiện quyết toán với tổ chức BHXH (quyết toán hàng quý hoặc sớm hơn đối với số trường hợp số tiền chi trả chế độ cho người lao động vượt đa dạng so có số tiền được giữ lại trong quý). Đối sở hữu các đơn vị chưa được quyết toán do đơn vị còn nợ tiền đóng BHXH, nay đơn vị đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đóng BHXH thì tổ chức BHXH thực hiện quyết toán chi trả chế độ ốm đau, thai sản theo quy định.
ví như doanh nghiệp cố tình trây ỳ không trả tiền trợ cấp thai sản thì người lao động gửi đơn đến Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc khởi kiện công ty ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty có trụ sở để đề nghị giải quyết. Theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật Lao động, thời hiệu đề nghị Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là một năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bà Luyến cho rằng quyền, tiện dụng hợp pháp của mình bị vi phạm.
5. chẳng hề đóng BHXH lúc người lao động nghỉ thai sản
Theo khoản 2, Điều 35 Luật BHXH hiện hành, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng BHXH. Thời gian này người lao động và người dùng lao động chẳng phải đóng BHXH.
trường hợp bà Nguyễn Thị Minh vật dụng thai chết lưu 6 tuần, được bệnh viện cho nghỉ việc 20 ngày (tính cả ngày nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần) hưởng chế độ thai sản là đúng quy định.
Trong thời gian bà Trang nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, không hưởng tiền lương tháng thì cả bà Trang và doanh nghiệp không hề đóng BHXH. Thời gian này bà Trang vẫn được tính là thời gian đóng BHXH.
19:50
Unknown
0 nhận xét:
Đăng nhận xét